Văn miêu tả - Tả đồ vật - Tả cái đồng hồ để bàn

Văn miêu tả - Tả đồ vật - Tả cái đồng hồ để bàn  -Cái đồng hồ của em cao hơn 30 cm. Đế của nó được làm bằng i-nốc sáng loáng hình bàu dục. Chỗ dài nhất của đế vừa bằng gang tay của em. Chỗ rộng nhất bằng hơn nửa gang tay. Phía trên của đế là hình một con tàu thủy mạ vàng sáng loáng. Một hình tròn giống như cái bánh lái được nối với thân tàu chính là hình tròn mặt chiếc đồng hồ. Trên nền vàng nhạt nổi lên những con số màu đen.

Văn miêu tả - Tả đồ vật - Tả cái đồng hồ để bàn

A. KIẾN THỨC CẦN NHỚ

I. LƯU Ý

Để làm tốt bài văn miêu tả các đồ vật đơn giản, gần gũi với cuộc sống xung quanh, các em cần phải:

- Xác định rõ đồ vật cần được miêu tả là vật gì.

- Quan sát kĩ đồ vật sẽ tả để tìm ra nét nổi bật riêng của đồ vật đó về hình dáng, màu sắc, cấu tạo, công dụng...

Trong khi quan sát, các em cần vận dụng quan sát bằng mắt (thị giác) để thấy rõ  về hình dáng, kích thước, màu sắc..., bằng tai (thính giác) để nghe âm thanh, tiếng động của vật khi ta sử dụng (đồng hồ kim, quạt máy chạy...), bằng xúc giác để cảm nhận bộ bóng, pin, mịn, phẳng, nhám... của vật.

- Dùng từ ngữ thích hợp để làm nổi bật các đặc điểm riêng của đồ vật, dùng từ ngữ hình ảnh so sánh hoặc nhân hóa để việc miêu tả được cụ thể, sinh động hơn.

II. CẤU TẠO CHUNG CỦA BÀI VĂN TẢ ĐỒ VẬT

1. Mở bài

Có thể mở bài theo một trong những cách sau:

a. Giới thiệu ngay đồ vật định tả (mở bài trực tiếp).

b. Nói chuyện khác có liên quan để dẫn vào việc giới thiệu đồ vật định tả (mở bài gián tiếp).

2. Thân bài

- Tả bao quát toàn bộ đò vật (hình dáng, kích thước, màu sắc, chất liệu,..)

- Tả những bộ phận đặc điểm nổi bật:

Lần lượt tả từng bộ phận của đồ vật theo trình tự từ trước ra sau, từ trên xuống dưới hoặc từ ngoài vào trong...

- Nêu rõ công dụng của đồ vật hay của từng bộ phận.

3. Kết bài

Có thể kết bài theo một trong những cách sau:

a. Nêu cảm nghĩ với đồ vật định tả (kết bài không mở rộng).

b. Từ công cụ của đồ vật, nêu thêm mối quan hệ giữa con người với đồ vật đó, bàn luận dẫn dắt người đọc liên tưởng hoặc suy nghĩ thêm về những vấn đề có liên quan (kết bài mở rộng).

B. TẬP LÀM VĂN

 

Đề: em hãy tả cái đồng hồ.

BÀI LÀM 1

     Em đã được thấy rất nhiều đồng hồ báo thức nhưng chưa thấy cái nào đặc biệt như cái đồng hồ dì gởi về tặng em, nhân dịp tổng kết năm học, em đạt danh hiệu học sinh xuất sắc.

     Cái đồng hồ của em cao hơn 30 cm. Đế của nó được làm bằng i-nốc sáng loáng hình bàu dục. Chỗ dài nhất của đế vừa bằng gang tay của em. Chỗ rộng nhất bằng hơn nửa gang tay. Phía trên của đế là hình một con tàu thủy mạ vàng sáng loáng. Một hình tròn giống như cái bánh lái được nối với thân tàu chính là hình tròn mặt chiếc đồng hồ. Trên nền vàng nhạt nổi lên những con số màu đen. Chiếc kim phút màu đen cứ chậm chạp,, chậm chạp nhích từng chút, từng chút thì cái kim giây màu đỏ lại có vẻ nhanh nhẹn hơn. Còn chiếc kim giờ dường như chỉ đứng yên một chỗ. Mặt kính đồng hồ trắng trong giúp cho em nhìn rất rõ mỗi lúc xem giờ. Đặc biệt nhất vẫn là quả lắc của đồng hồ. Nó không phải hình tròn cũng không phải là hình bầu dục mà lại là hình một chiếc nơ nhỏ bốn cánh trông rất xinh xắn. Nó chăm chỉ lắc đều suốt ngày này sang ngày khác. Mỗi khi đến giờ hẹn, tiếng chuông lại “ reng ... reng ...” giúp em trở dậy đúng giờ để kịp đến trường.

      Thỉnh thoảng em lấy giẻ lau hồng hồ thật sạch. Em coi đồng hồ như người bạn thân thiết của mình. Nhờ nó mà em chưa bao giờ đi học trễ cả. Em thật hạnh phúc vì tất cả mọi người trong gia đình luôn quan tâm đến em. Em thầm hứa với mình sẽ cố gắng học giỏi hơn nữa, chăm ngoan hơn nữa để khỏi phụ lòng ông bà, cha mẹ, cô, dì ...

 

BÀI LÀM 2

      Cách đây ba năm, trong một lần đi chợ tỉnh, ba em mang về một chiếc đồng hồ để bàn. Từ đó “bác” trở thành người một người bạn thân của gia đình.

     Đó là một chiếc đồng hồ nội hóa, loại lên dây. Cả đồng hồ là một hình hộp chữ nhật, rộng độ hai mươi phân, cao mười phân, dày sáu phân. Vỏ đồng hồ bằng nhựa trắng, mép ngoài mạ nhôm bóng lộn. Sau tấm kính trắng là mặt đồng hồ. Bên trái, có một ô vuông nhỏ, có số chỉ ngày. Phần chính là bên phải, gồm một hình bầu dục có ghi mười hai chữ số, từ số một đến số mười hai. Trên mặt đồng hồ có ba cây kim dài ngắn khác nhau và tốc độ di chuyển cũng không giống nhau. Kim giây dài nhất, mảnh mai, màu đỏ, quay nhanh liên tục. Kim phút tuy to hơn, nhưng ngắn hơn, chốc chốc mới nhích tới một bước ngắn. Chậm hơn cả và cũng ngắn hơn cả là kim giờ. Mặt sau đồng hồ có ba chiếc núm: núm để lên dây, núm để điều chỉnh giờ và núm hẹn giờ báo thức.

     Trên chiếc bàn tròn của phòng khách, bác đồng hồ cần mẫn đếm thời gian. Tiếng “ tích tắc, tích tắc “ đều đặn phát ra từ chiếc đồng hồ không kể đêm ngày. Sáng sớm, đúng năm giờ, bác lên tiếng “ reng... reng” một hồi dài để đánh thức mọi người dậy. Chưa một lần nào bác bê trễ công việc, nếu mỗi ngày ta đừng quên lên dây cho bác.

    Nhờ bác đồng hồ mà suốt mấy năm qua, em luôn đi học đúng giờ. Tiếng “ tích tắc, tích tắc” đều đặn của bác như luôn nhắc nhở em : “ giờ nào việc ấy! Thời gian trôi qua không sao níu lại được!”.

_____________________________Source:vantieuhoc.com___________________

Top